Dùng vỏ hạt lựu và nhân trần, mỗi vị 10 g, ý dĩ nhân, bạch hoa xà thiệt thảo đều 30 g, bản lam căn, bồ công anh, bại tương thảo đều 15 g, các loại đem sắc uống.
Quả lựu. Ảnh: News.
Theo giáo sư Võ Văn Chi, tác giả sách Bài thuốc hay từ cây thuốc quý cho biết lựu (hay thạch lựu) tên khoa học là Punica granatum L., thuộc họ lựu Punicaceae.
Cây lựu nhỏ, cao khoảng 6 m, thân hay xù xì, màu xám. Rễ trụ khỏe, hóa gỗ, dạng con thoi, màu nâu đỏ ở ngoài, vàng nhạt bên trong. Lá đơn, nguyên, mọc đối, bóng loáng. Hoa mọc trơ thổ địa hoặc tập trung thành mực tàu 3 đến 4 chiếc ở ngọn cành. Hoa có từ 5 đến 6 lá dài hợp ở gốc, từ 5 đến 6 cánh hoa màu đỏ chói, rất nhiều nhị và bầu nhiều ô chứa các noãn xếp chéo lên nhau. Quả mọng, tròn, vỏ dày, ở trên có đài tồn tại, vách lựu chia thành 2 tầng, các tầng được chia ra các ô có nhiều hạt tròn có vỏ hạt mọng.
Lựu có nguồn gốc Tây Á, được trồng nhiều ở Bắc Phi, nay phổ biến ở khắp nơi. Cây này được đem trồng nhiều nơi ở Việt Nam. Người ta tạo giống bằng hạt hoặc cành chiết. Lựu kết hoa vào tháng 5 đến tháng 6, có quả tháng 7 đến tháng 8.
Đông y dùng vỏ quả làm dược liệu, thường gọi là thạch lựu bì. Người ta thu hái vào mùa thu, phơi khô. Vị thuốc này chua, chát, tính ấm, độc ít, tác dụng thu liễm, chỉ tả, chỉ huyết, khu trùng, kháng AIDS, kháng u, bướu. Vỏ lựu thường dùng trị tiêu chảy và lỵ ra huyết, đái ra máu, băng huyết, bạch đới, thoát giang, đau bụng giun. Liều dùng từ 10 đến 15 g.
Phân tích dược lý cho thấy lựu bì chứa punicalin, punicalagin, acid ursolic, isorquercitrin, axit malic, granatin B. Nhiều nghiên cứu chứng minh, punicalin và punicalagin chống lạisự tăng sinh trong tế bào H9 của virus HIV và ức chế hoạt tính sao chép ngược (phục chế) của nó. Axit ursolic ức chế rất mạnh đối với đặc tính men protein tuýp 1 của virus HIV, ngoài ra còn có khả năng kháng ung thư. Thử nghiệm ngoài bệnh nhân ghi nhận thạch lựu bì có công dụng cưỡngng lại sự sản sinh của virus HSV-2.
Dược liệu chiết xuất từ lựu bì có tác dụng với niêm mạc âm đạo. Thuốc sắc có hiệu quả trong việc xua đuổi vi trùng, giúp co các vết sẹo trên cơ thịt do ký sinh trùng gây ra. thạch lựu bì còn có tác dụng ức chế đối với trực khuẩn gây mủ xanh, trực khuẩn kết hạch, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn lỵ và các loại nấm gây bệnh trên da.
bác sĩ Võ Văn Chi trình bày một số bài thuốc từ vỏ quả lựu như sau:
Bệnh AIDS, kiết lỵ do thấp nhiệt, nhiệt độc tồn đọng bên trong cơ thể
Dùng thạch lựu bì 20 g, bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, hoàng cầm, hoàng liên đều 10 g, hoạt thạch, phục linh, kim ngân, bồ công anh đều 15 g. toàn bộ đem sắc uống.
Bệnh AIDS, cơ quan sinh dục nổi những mẩn đỏ và mụn nước gây ngứa
lựu bì và nhân trần, mỗi vị 10 g, ý dĩ nhân, bạch hoa xà thiệt thảo đều 30 g, bản lam căn, bồ công anh, bại tương thảo đều 15 g. Tất cả đem sắc uống. Đồng thời lấy lựu bì 60 g, hoàng bá, cúc hoa vàng, rau sam đều 30 g, nấu lấy nước đặc để ngâm trong 15 phút. Mỗi ngày 2 lần.
Trần Ngoan
tranngoan@vnexpress.net
0 nhận xét:
Đăng nhận xét